11 phút, 41 giây để đọc.

Các chuyên gia hay, vàng có thể là một trong những giá trị khá tiềm tàng. Trong các danh mục thì các nhà đầu tư không muốn bất cứ một chấp nhận rủi ro do lạm phát gì cả? Bởi vàng chính là một là tài sản được xem là duy nhất không bị mất giá thực do lạm phát. Nhưng tuy nhiên, vàng cũng không thể sinh lời tích cực trong một thời gian dài hạn. Họ còn nhấn mạnh thêm về vấn đề vàng hiện tại sinh nguồn lợi nhuận khá là thấp hơn so với giá của các cổ phiếu.

Giá trị tiềm năng thật sự của vàng

Bên cạnh chức năng là một trong những công cụ giữ được giá trị, chống lại yếu tố lạm phát tốt nhất. Vàng đã và đang trở thành một sản phẩm đầu tư hấp dẫn đối với các doanh nghiệp kinh doanh vàng nói riêng và các nhà đầu tư nói chung. Lời nhận định trên được đăng trên website của một sàn giao dịch vàng hàng đầu tại Việt Nam. Vậy câu hỏi được đặt ra là giá trị của vàng là gì? và liệu mua vàng có chống được lạm phát? Vàng trước tiên là một loại hàng hóa. Đặc điểm của loại hàng hóa này là rất quý hiếm, được mọi người yêu thích, không thay đổi chất lượng, dễ được nhận biết và được chấp nhận trao đổi.

Chính vì vậy, vàng vừa là một loại hàng hóa, vừa là một công cụ trung gian trong trao đổi hàng hóa, tích trữ giá trị như tiền từ 5.000 năm nay. Nhiều quốc gia kể từ trước Thế chiến lần thứ nhất đã áp dụng chế độ bản vị vàng. Theo chế độ này, hệ thống ngân hàng bắt buộc phải đảm đảm được yêu cầu chuyển đổi tiền thành vàng của người dân. Alan Greenspan, cựu Chủ tịch Fed trong một bài viết với nhan đề “Vàng và tự do kinh tế”. Năm 1966 đã viết “không có cách gì bảo vệ tiền tiết kiệm khỏi sự mất giá trị do lạm phát nếu không có chế độ bảo đảm bằng vàng”.

Giá trị tiềm năng thật sự của vàng

Các chuyên gia phân tích rõ ràng

Tuy nhiên, Chính phủ Anh và sau đó là Mỹ đã từ bỏ chế độ bản vị vàng. Do nhu cầu in tiền chi tiêu cho Thế chiến thứ nhất. Sau thế chiến, chế độ này lại được tái thiết lập. Và rồi lại bị dỡ bỏ trong giai đoạn Đại khủng hoảng và Thế chiến lần thứ hai. Chế độ bản vị vàng, sau đó lại được thiết lập với một hình thái mới trong hệ thống Bretton Woods. Để rồi lại bị dỡ bỏ vào thời kỳ khủng hoảng trong chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Như vậy, thời điểm phá bỏ chế độ bản vị vàng thường trùng với các cuộc chiến tranh khi chính phủ. Có nhu cầu chi nhiều tiền bằng việc in thêm tiền.

Alan Greenspan đã phê phán việc cung tiền không tương ứng với cung ứng hàng hóa vật chất nhằm tài trợ thâm hụt chi tiêu không khác gì một hành động của chính phủ nhằm bòn rút giá trị tài sản của các cá nhân trong xã hội. Nghiên cứu cũng khẳng định cổ phiếu là tài sản tốt nhất để chống lạm phát. Bởi lợi nhuận danh nghĩa từ cổ phiếu luôn cao hơn trong lạm phát mà không cần giá trị đủ lớn. Để đảm bảo tỷ lệ lợi nhuận thực hoàn toàn cao hơn tỷ lệ lạm phát. Cổ phiếu không nhạy cảm đối với lạm phát như trái phiếu.

Họ luôn đảm bảo bằng chế độ bản vị vàng

Tài sản và quyền tự do về kinh tế của các thành viên bị vi phạm khi ngày hôm nay. Người dân bước chân vào ngân hàng, yêu cầu đổi tiền thành vàng. Và lại chỉ nhận được một số lượng vàng ít hơn ngày hôm qua trong khi anh ta chẳng làm gì nên tội. Chính vì vậy, Alan Greenspan đã coi vàng (chế độ bản vị vàng) như một chiến sỹ tự do. Đứng ra bảo vệ tài sản của mỗi cá nhân trong xã hội.

Do vậy, vàng không chỉ xinh đẹp. Vàng còn bảo đảm cho hoạt động kinh tế độc lập với sự can thiệp tùy tiện của chính phủ (in tiền cho chi tiêu chiến tranh).Vàng, đảm bảo tài sản và tự do kinh tế của mỗi cá nhân trong xã hội. Alan Greenspan đã viết như vậy. Tuy nhiên, điều gì đã xảy ra khi mà tiền không còn được bảo đảm bằng chế độ bản vị vàng.

Liệu vàng có được xem là tài sản chống lạm phát hay không?

Kể từ khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ, trong vòng 30 năm trở lại đây. Giá vàng và lạm phát không còn mối quan hệ cụ thể nào với nhau. Giá vàng đã tăng từ 105 USD/ounce năm 1976 lên tới 850 USD/ounce năm 1980. Trong khi chỉ số giá tiêu dùng trong giai đoạn này tăng 28%. Sau năm 1980, giá vàng tụt dốc xuống còn 256 USD/ounce. Thì chỉ số giá lại vẫn tăng lên khoảng gấp đôi trong giai đoạn này.

Gần đây, khi giá vàng tăng từ 256 USD/ounce lên tới 1011 USD/ounce. Thì chỉ số giá tiêu dùng cũng chỉ tăng tích lũy khoảng 20%. Những con số trên cho thấy, giá vàng biến động không theo biến động của lạm phát. Tại Việt Nam, quan hệ giá vàng và lạm phát cũng biến động không theo quy luật nào. Ví dụ giá vàng đã đạt mức 1 triệu đồng/chỉ. Và chỉ tăng gấp đôi so với thời điểm dịp cuối năm.

Liệu vàng có được xem là tài sản chống lạm phát hay không?

Chỉ số giá tích lũy trong giai đoạn này tăng khoảng 30%. Giá vàng tiếp tục tăng gần gấp đôi tới trên 1,9 triệu đồng/chỉ vào tháng 12. Trong khi chỉ số giá tích lũy tăng 16%. Trong khi lạm phát có xu hướng tăng cao trên 11% tới tháng 4. Vàng lại quay đầu giảm từ đỉnh giá 19,5 triệu/đồng chỉ (vàng SJC) xuống còn 17,018 triệu đồng/chỉ. Vậy vàng có còn là công cụ tốt nhất để chống lại lạm phát hay lại là một công cụ đầu cơ? Khi mà cung tiền không còn được đảm bảo bằng những tiêu chuẩn dự trữ vàng. Những số liệu thống kê trong hơn 30 năm qua đã thay cho câu trả lời.

Quá trình đầu tư có gặp rủi ro hay không?

Trước đây, để lý giải về nguyên nhân khiến giá vàng biến động mạnh. Giới chuyên gia thường nhắc đến tâm lý lạc quan nhằm tận dụng cơ hội trên thị trường của các nhà giao dịch. Hơn là những thay đổi lớn trong cơ cấu đầu tư. Tuy nhiên, đà tăng phi mã của giá vàng trong thời điểm gần đây đã mở ra một góc nhìn mới. Trong thời điểm hiện nay, kim loại quý được coi là “miếng bánh ngon” đối với tất cả mọi người. Đây là kết quả của việc các ngân hàng trung ương liên tục can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động thị trường.

Nguyên nhân chính khiến giá vàng biến động mạnh

Trong vòng 7 năm trở lại đây, mặc dù qua một số lần bị điều chỉnh, giá vàng liên tục tăng. Tại Việt Nam, trong bối cảnh lạm phát tăng cao, lãi suất thực âm liên tục.Thị trường chứng khoán khủng hoảng. Nhiều nhà đầu tư đã quay sang vàng với niềm tin vàng có thể chống được lạm phát. Một phong trào đầu tư mới lại được bắt đầu, hướng từ chứng khoán, nhà đất sang vàng.

Tuy nhiên, giả sử nếu bạn mua vàng với giá 195 USD/oune vào thời điểm đỉnh điểm cuối năm. Giá vàng sau đó giảm liên tục, bạn mất một nửa giá trị vào đầu năm. Nếu bạn quyết “găm” hàng không bán ra. Thì bạn phải đợi tới giữa năm để bắt đầu có những đồng lãi đầu tiên. Gần đây hơn, giá vàng giảm từ 400 USD/ounce tháng 1 xuống còn 250 USD/ounce tháng 1. Và phải tới tận tới năm sau mới hồi phục mức giá. Như vậy bạn sẽ lại phải “găm” hàng 8 năm để bắt đầu có lãi. Và ngược lại nếu may mắn, bạn đầu tư vào thời điểm với giá 400 USD/ounce và “găm” hàng tới đầu nă. Bạn sẽ lãi 2,5 lần.

Những chu kỳ điều chỉnh của vàng

Như vậy các nhà đầu tư vàng trước đây chắc hẳn đã rút ra kết luận xương máu rằng đầu tư vàng là hết sức rủi ro. Các chu kỳ điều chỉnh của vàng thường rất dài. Do vậy khả năng thu được lợi nhuận hoặc trả giá cho rủi ro cũng rất lớn. Tới thời điểm hiện nay khi vàng đã vượt điểm đỉnh cao nhất trong lịch sử là năm 1980 (850 USD/ounce). Và đang dập dình chưa rõ sẽ đi về đâu, có một số giả thiết được đặt ra:

Vàng sau giai đoạn điều chỉnh cuối tháng 4 sẽ tiếp tục chu kỳ tăng giá mới. Như đã xảy ra trong chu kỳ tăng giá liên tục sau mỗi năm. Cơ sở của nhận định này là đồng bạc xanh sẽ tiếp tục suy yếu. Giá dầu tiếp tục tăng, lãi suất thực tiếp tục âm. Mỹ tiếp tục sa lầy vào chiến tranh Irắc hoặc một cuộc khủng bố lớn hoặc chiến tranh mới có thể xảy ra (với Iran hoặc Bắc Triều Tiên). Kinh tế thế giới bất ổn và các quốc gia đang phát triển đua nhau tăng dự trữ vàng (như Nga, Trung Quốc và Ấn Độ). Vàng sẽ có thể tăng tới 1.500 USD /ounce vào cuối năm.

Vàng đã tăng cực điểm và đang bắt đầu chu kỳ điều chỉnh giảm sâu. Cơ sở là kinh tế Mỹ sẽ vượt qua khó khăn như đã từng vượt qua sau năm, lạm phát giảm. Đồng đô la dần được hồi phục, lãi suất thực dương bắt đầu. Các nước Châu Âu và kể cả OPEC sẽ giúp hồi phục kinh tế Mỹ. Nếu như không muốn tất cả đều chết chìm, giá dầu ổn định. Tình hình bất ổn chính trị lắng xuống. Vàng sẽ bắt đầu điều chỉnh giảm như đã xảy ra và có thể giảm tới 500 USD/ounce cuối năm.

Những chu kỳ điều chỉnh của vàng

Cung cấp các sản phẩm theo bản vị vàng?

Các chuyên gia nhấn mạnh về dài hạn, vàng sinh nguồn lợi nhuận thấp hơn rất nhiều so với cổ phiếu. Vàng chỉ đem lại lợi nhuận thực 1,1% tính theo đồng bảng Anh. Mặc dù giá trị của vàng luôn dao động lớn.

Đầu tư vàng rõ ràng là có rủi ro lớn. Có thể vì lý do này mà Luật kinh doanh bảo hiểm (năm 2000) của Việt Nam không cho phép. Các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi của mình. Để đa dạng hóa danh mục đầu tư sang vàng. Đây có thể là một quyết định sáng suốt. Trước khả năng lạm phát cao tại Việt Nam, giá trị quyền lợi bảo hiểm (đặc biệt là nhân thọ) mất giá từng ngày. Để ổn định tâm lý khách hàng, đã (từng) có doanh nghiệp bảo hiểm cam kết trả quyền lợi bảo hiểm nhân thọ cho khách hàng theo giá trị của vàng.

Tuy nhiên, là một công ty kinh doanh rủi ro, liệu doanh nghiệp bảo hiểm. Có nên chấp nhận các rủi ro không kiểm soát được. Đặc biệt khi các rủi ro này xảy ra ngoài lãnh thổ Việt Nam. Bởi những yếu tố không liên quan gì tới Việt Nam. Ví dụ giá vàng đã tăng gấp hơn 4 lần từ năm 1976 tới 1980 và rồi lại giảm gần 3 lần tới cuối năm 1982. Tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra đối với tỷ giá hối đoái. Như các loại sản phẩm gắn với tỷ giá hối đoái. Liệu doanh nghiệp bảo hiểm có thể chấp nhận các rủi ro lớn như vậy.

Tỷ lệ người lựa chọn đầu tư về vàng

Mặc dù việc bảo vệ quyền lợi khách hàng là một mục tiêu ưu tiên. Tuy nhiên, liệu ưu tiên bảo vệ khách hàng có cao hơn ưu tiên bảo vệ chính bản thân doanh nghiệp bảo hiểm. Và cũng là để bảo vệ cho hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu khách hàng. Và cổ đông khác của doanh nghiệp bảo hiểm? Liệu doanh nghiệp bảo hiểm có nên là “chiến sỹ” bảo vệ tài sản. Và tự do kinh tế cá nhân như lời của cựu chủ tịch Fed. Mang trách nhiệm mà ngay cả các chính phủ của các quốc gia hùng mạnh nhất hiện nay cũng không đảm nhiệm được.

Trong khi đó, vẫn còn các công cụ đơn giản hơn, gần gũi hơn, dễ kiểm soát hơn. Đó chính là lãi suất nhằm điều chỉnh theo các biến động của sự mất giá đồng tiền. Khi tỷ lệ lạm phát từ 18% trở lên, cổ phiếu mất giá 12% nhưng trái phiếu mất giá tới 23%. Mức lạm phát cao hơn 10% luôn đi kèm với lãi suất thực của cổ phiếu là 5,2%. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cảnh báo rằng. Mặc dù cổ phiếu luôn là tài sản có thể chống được lạm phát hiệu quả. Nhưng khả năng này cũng có giới hạn. Nếu tỷ lệ lạm phát làm giảm quá lớn giá trị thực của trái phiếu. Và cả tiền mặt, cổ phiếu cũng không còn được miễn trừ.

Nguồn: chat.baovietnhantho.com.vn